Xu-páp nạp và xu-páp xả giãn nở trong khi vận hành tùy thuộc vào sự gia tăng nhiệt độ và vật liệu cấu tạo. Ngoài ra những thay đổi chiều dài do hao mòn còn xuất hiện ở những bộ phận truyền động của cơ cấu phối khí. Để xu-páp nạp và xu-páp xả có thể đóng hoàn hảo trong tất cả trạng thái vận hành, giữa những bộ phận truyền động đều có khe hở. Khi động cơ lạnh, khe hở xu-páp sẽ lớn hơn khi động cơ nóng.
Thông thường, khe hở của xu-páp xả lớn hơn của xu-páp nạp vì chúng nóng hơn.
Nếu khe hở xu-páp quá nhỏ: Xu-páp mở sớm hơn và đóng trễ hơn.
Xu-páp thải có thể bị nóng quá mức vì không đủ thời gian để nhiệt lượng từ đĩa xu-páp thoát lên đế xu-páp khi thời gian đóng ngắn đi. Ngoài ra, khe hở quá nhỏ dẫn đến nguy cơ xu-páp thải hoặc xu-páp nạp không đóng lại nữa khi động cơ nóng lên. Qua khe hở ở xu-páp thải, khí thải được hút vào, qua khe hở nơi xu-páp nạp ngọn lửa dội trở lại. Điều này dẫn đến việc thất thoát khí và giảm công suất. Các xu-páp bị quá nhiệt do luồng khí thải nóng liên tục thổi qua khiến đĩa xu-páp và đế xu-páp bị đốt cháy.
Nếu khe hở xu-páp quá lớn: Xu-páp mở quá trễ và đóng quá sớm, dẫn đến thời gian mở ít hơn và tiết diện mở nhỏ hơn. Điều này làm cho dung tích nạp và công suất kém đi. Ứng lực cơ của xu-páp và tiếng ồn xu páp tăng lên.
Điều chỉnh khe hở xu-páp: Có nhiều cách điều chỉnh khác nhau tùy theo loại động cơ và nhà sản xuất. Theo quy định, việc điều chỉnh này có thể được thực hiện khi động cơ lạnh, khi động cơ nóng, khi động cơ đứng yên hoặc thậm chí khi động cơ vận hành chậm.
Trong trường hợp trục cam nằm trên với cò mổ hoặc cò gánh, khe hở có thể được chỉnh bằng vít chỉnh hoặc đai ốc khóa, hoặc như trong Hình dưới bằng cách xoay chỉnh chốt ép dạng cầu trong ren tự khóa tại đế tựa của cò gánh. Khe hở xu-páp được kiểm tra bằng khe hở giữa vòng tròn cơ bản trục cam và cò gánh.
Trong trường hợp trục cam nằm trên với chén đội (Hình dưới), những đĩa chỉnh tôi cứng có độ dày khác nhau được đặt vào chén đội để đạt được khe hở đúng. Khe hở này được kiểm tra trực tiếp bằng khe hở giữa vòng tròn cơ bản trục cam và đĩa chỉnh.

Tùy theo quy định của nhà sản xuất, khe hở xu-páp nằm trong khoảng 0,1 mm đến 0,3 mm. Nếu không được chỉnh đúng, thời gian mở và đóng của xu-páp sẽ bị sai lệch.
Điều chỉnh khe hở xu-páp bằng thủy lực:
Ở những động cơ được trang bị bộ phận điều chỉnh khe hở xu-páp bằng thủy lực, việc chỉnh khe hở xu-páp không còn cần thiết nữa. Điều chỉnh khe hở xu-páp là cân bằng sự thay đổi chiều dài của những bộ phận thông qua những chi tiết truyền động được vận hành bằng thủy lực. Qua đó khe hở xu-páp được giữ ở trị số bằng 0 khi động cơ đang hoạt động.
Cấu tạo:
Chi tiết điều chỉnh khe hở nằm trong chén đội. Xu-páp được kích hoạt trực tiếp từ trục cam nằm trên qua chén đội (hình dưới).
Chén đội thủy lực (hình dưới) được nối với mạch tuần hoàn dầu của động cơ. Dầu chảy vào một lỗ khoan bên hông đến buồng con đội xu-páp và từ đó qua một lõm trong nền con đội vào khoang cân bằng phía trên chốt ép.

Nguyên lý hoạt động của khe hở xu-páp thuỷ lực
Cam quay xuống. Chốt ép được giảm tải. Lò xo đẩy chốt ép lên trên đến khi chén đội tiếp xúc với cam hoặc vấu cam. Do khoang phía dưới chốt ép mở rộng ra, dầu chảy từ khoang cân bằng qua van bi vào khoang công tác.
Cam quay lên. Chốt ép chịu tải, van bi đóng lại và lượng dầu trong khoang công tác tác động như một “kết nối cứng”. Qua ống dẫn hướng, xu-páp nạp hoặc xu-páp thải được mở. Qua vòng khe giữa chốt ép và ống dẫn hướng, dầu thừa có thể thoát ra, thí dụ khi những chi tiết điều khiển bị giãn nhiệt.

Nếu xu-páp được kích hoạt từ trục cam qua cò gánh, chi tiết cân bằng khe hở sẽ được lắp ráp trong ổ đỡ cò gánh (Hình trên). Cách hoạt động giống như ở chén đội.
Xem thêm:
Cơ cấu phối khí: Tổng quan
Cơ cấu phối khí: Cấu tạo hệ thống xu-páp
Cơ cấu phối khí: Khe hở xu-páp
Cơ cấu phối khí: Rãnh và lò xo xu-páp







