Hệ thống bôi trơn phải cung cấp đầy đủ lượng dầu bôi trơn cho mọi chi tiết máy, đồng thời phải đảm bảo áp suất tiêu chuẩn, liên tục và ổn định
Lọc dầu
Lọc dầu được sử dụng để tránh dầu bôi trơn bị giảm phẩm chất sớm do những tạp chất rắn, thí dụ mạt kim loại, muội than, hạt bụi (xem mục 1.6). Tuy nhiên, lọc dầu không thể loại trừ chất bẩn dạng lỏng hoặc đã hòa tan trong dầu. Chúng cũng không ảnh hưởng đến những thay đổi hóa hay cơ của dầu khi động cơ vận hành, thí dụ do lão hóa. Hai kiểu lọc dầu khác nhau được phân biệt tùy theo cách bố trí trong dòng dầu: lọc dầu dòng chính và lọc dầu dòng phụ.
Lọc dầu dòng chính: bảo đảm không cho dầu chưa lọc đến các vị trí bôi trơn. Để có thể cung cấp lượng dầu đầy đủ, trở lực dòng chảy của lưới lọc (độ lớn lỗ) không được quá cao. Vì thế hiệu suất lọc bị giới hạn. Những hạt chất bẩn nhỏ nhất không được lọc ra.

Van tràn: Nếu bộ lọc bị tắc nghẽn, dầu chảy qua van tràn không qua bộ lọc để đến những vị trí bồi trơn.

Van ngăn hồi lưu: Có thể được lắp thêm vào đường đến và thoát của bộ lọc để ngăn không cho lọc dầu dòng chính chạy không tải khi động cơ dừng.

Lọc dầu dòng phụ: Bộ lọc được lắp trong nhánh chạy song song (dòng phụ) với dòng chính, do đó chỉ một phần của lượng dầu tải (5% đến 10%) chảy qua. Vì thế chỉ có một phần dầu đến những vị trí bôi trơn được lọc. Độ lớn lỗ của lưới lọc có thể được giảm thiểu cho đến khi những hạt chất bẩn nhỏ nhất có thể được lọc khỏi dòng phụ.

Kết hợp lọc dòng chính và phụ. Với cách này, có thể đạt được hiệu suất lọc tốt nhất. Chúng được sử dụng thí dụ trong những xe công trường. Vì lý do chi phí nên phần lớn xe cá nhân chỉ sử dụng bộ phận lọc dòng chính.
Xả khí hộp trục khuỷu
Ở động cơ Otto và đặc biệt động cơ diesel cao áp, hiện tượng lọt khí phát sinh, khí thoát từ buồng đốt vào hộp trục khuỷu. Khí này, bị bẩn do những giọt dầu nhuyễn, nhiên liệu dư thừa, hơi nước và muội than, được dẫn qua bộ phận tách dầu đến nơi hút không khí của động cơ.

Để giảm tiêu thụ dầu, bảo vệ những chi tiết nhạy cảm của động cơ tránh chất bẩn và qua đó giảm khí thải, khí hộp trục khuỷu phải được làm sạch trước khi được dẫn trở lại. Việc này được thực hiện với bộ phận tách dầu, thí dụ tách dầu ma trận, tách dầu lốc xoáy hoặc tách dầu ly tâm (Hình trên).
Cảm biến dầu. Để xác định chính xác mức dầu, nhiệt độ và tình trạng dầu của động cơ, một cảm biến có thể được cài đặt vào bể dầu.

Cảm biến gồm hai tụ điện hình trụ tròn đặt lên nhau. Ở phần dưới, phẩm chất dầu được đánh giá còn mực dầu được đo ở phần trên.
Nguyên tắc đo: Khi tình trạng dầu thay đổi do hao mòn hay phụ chất thải ra, điện dung của tụ điện trong dầu cũng thay đổi. Trị số điện dung được một mạch điện tử đánh giá tích hợp chuyển sang tín hiệu số và gửi đến bộ điều khiển động cơ. Nơi đây tín hiệu này được dùng cho việc tính toán thời hạn bảo trì thay dầu lần tiếp theo. Mức độ dầu được hiển thị trên màn hình.
Nhiệt độ dầu: Việc đo nhiệt độ dầu được thực hiện với một cảm biến nhiệt (NTC- Negative Temperature Coefficient) được tích hợp trong cảm biến dầu.
Xem thêm:







