Làm sao để xe chạy hoài không hư

1.8 – Đường đặc tính của động cơ

So sánh công suất và mô-men xoắn

Mục lục:

Điền vào biểu đồ những trị số đo được theo tốc độ quay, những đường biểu diễn hình thành từ những điểm đo tương ứng là những đường đặc tính của động cơ.

Ta phân biệt giữa đường đặc tính tải toàn phần và ường đặc tính tải một phần:

Đường đặc tính tải toàn phần của một động cơ Otto 4 thì
Đường đặc tính tải toàn phần của một động cơ Otto 4 thì


Đường đặc tính tải toàn phần: Động cơ, khi đang chạy ở nhiệt độ vận hành trên băng thử, sẽ được phanh lại, trong khi van tiết lưu vẫn mở hoàn toàn.

Tải toàn phần được hiểu là mức tải cao nhất mà động cơ có thể vượt qua ở mỗi tốc độ quay. Những trị số đo được suốt phạm vi tốc độ quay với tải cố định là nền tảng cho những đường biểu diễn mô-men xoắn, công suất và suất tiêu thụ nhiên liệu. Từ những đường biểu diễn này, mô-men xoắn cực đại, công suất cực đại và mức tiêu hao nhiên liệu cực tiểu ở vòng quay tương đương được xác định.

Đường đặc tính tải một phần: Trong điều kiện lái xe hằng ngày, một động cơ ít khi chịu tải toàn phần nên việc đo lường ở tải một phần cũng rất quan trọng. Vì thế, nhiều thí nghiệm đã được thực hiện ở những tốc độ quay khác nhau. Van tiết lưu khi đó chỉ được mở một phần.

Theo lý thuyết, ở một vị trí không đổi của van tiết lưu trong suốt phạm vi tốc độ quay, không những mức tiêu thụ nhiên liệu mà cả mô-men xoắn cũng phải cố định, một thể tích lượng năng lượng cố định nạp vào phải luôn cho ra một mức mô-men xoắn cố định trên trục khuỷu. Tương ứng với điều này, công suất phải tăng đều với tốc độ quay.

Sau khi đạt được công suất tối đa, đường biểu diễn công suất lại đi xuống vì với tốc độ quay tăng lên, không thể cân bằng được việc thất thoát momen xoắn.

Những nguyên nhân của sự chênh lệch so với trạng thái lý tưởng:

  • Dao động của thể tích nạp ở phạm vi tốc độ quay thấp hoặc cao.
  • Thiếu không khí và việc cuộn xoáy của hỗn hợp nhiên liệu-không khí không tốt do tốc độ luồng không khí thấp, khiến quá trình đốt chậm đi và cháy không hoàn toàn.
  • Thất thoát nhiệt lượng.
  • Thất thoát do ma sát.

Phạm vi đàn hồi: nằm trong khoảng mô-men xoắn cực đại và công suất cực đại (Hình trên). Khi vòng quay giảm xuống thì công suất giảm đi, đồng thời được cân bằng với mô-men xoắn tăng lên. Mô-men xoắn cực đại nên thấp hơn phạm vi vòng quay trung bình, ngược lại, công suất cực đại nên cao hơn phạm vi vòng quay. Qua đó phạm vi đàn hồi rộng hơn, ảnh hưởng có lợi đến việc điều chỉnh hộp số vì dải mô-men xoắn lớn hơn.

Đường đặc tính tiêu thụ nhiên liệu: Trong biểu đồ, mô-men xoắn được biểu diễn theo vòng quay ở những suất tiêu hao nhiên liệu khác nhau. Những đường biểu diễn với suất tiêu hao nhiên liệu cố định được hình thành, đôi khi là vòng khép kín.

Đường vỏ sò
Vùng đặc tính tiêu thụ nhiên liệu – đường vỏ sò


Vì những đường này tương tự như một vỏ sò nên chúng được gọi là đường vỏ sò. Thêm vào đó, biểu đồ còn chứa những đường biểu diễn với hiệu suất cố định, qua đó cho thấy động cơ có thể cung cấp một hiệu suất nhất định với nhiều suất tiêu hao nhiên liệu khác nhau. Trong biểu đồ, động cơ nói trên có thể cho công suất 60 kW, không những ở suất tiêu hao nhiên liệu 320 g/kWh mà còn ở suất tiêu hao 280 g/kWh, với momen xoắn tăng lên.


Cuốn sách thiết thực, dễ đọc, dễ hiểu dành cho các chủ xe và tài xế. Được viết bởi một thợ sửa xe chuyên nghiệp, sách gồm 12 phần, nói về những điều nên làm và không nên làm khi sử dụng xe ô tô