Kiểm soát mức dầu và thay dầu
Kiểm soát mức dầu với que đo dầu. Mức dầu nên nằm giữa hai vạch Min (tối thiểu) và Max (tối đa) của que đo. Khi đo, xe phải đậu trên mặt phẳng.

Mức dầu quá thấp: dầu phải được châm thêm, phải chú ý không được vượt qua vạch Max. Lượng dầu châm thêm cho khoảng cách giữa hai vạch ở xe cá nhân thường là 1 lít.
Mức dầu quá cao: Việc loãng dầu có thể xảy ra ở những xe chạy cự ly ngắn liên tục, nhiên liệu lọt xuống đáy các-te, dẫn đến mức dầu tăng lên quá cao. Trường hợp này việc đo được lặp lại sau khi xe vận hành lâu và động cơ nóng. Nếu mức dầu vẫn quá cao khi đo lại, dầu phải được thay mới hoặc hút ra.
Kiểm soát mức dầu qua màn hình xe: Nếu xe có lắp cảm biến nhớt, mức nhớt hiện tại phải được hiển thị trên màn hình dưới danh mục “Dầu động cơ”. Cự ly cho đến kỳ thay dầu tiếp theo cũng được thể hiện tại mục này.
Tiêu thụ dầu
Tiêu thụ dầu bình thường:
Là khi mức hao hụt không vượt quá 0,1 lít đến 1,0 lít dầu trên đoạn đường 1.000 km. Xe mới có thể hao phí nhiều hơn do quá trình chạy rà máy.
Tiêu thụ dầu vượt cao:
Nếu mức tiêu thụ vượt cao hơn mức cố định thì nguyên nhân phải là lỗi máy móc:
- Phốt xu-páp hư hỏng: Trong trường hợp này dầu thoát vào đường cổ hút hoặc đường thải. Khói xanh sinh ra khi dầu bốc cháy.
- Khe hở giữa xéc măng và rãnh vòng xéc măng: Vì hao mòn, độ hở giữa hai chi tiết này có thể tăng lên. Do đó xéc măng bị xê dịch tới lui trong rãnh khi piston di chuyển lên xuống. Sự thay đổi vị trí này làm cho dầu bị “bơm” vào buồng đốt.
- Dầu vào trong buồng đốt và bốc cháy tại đó. Do việc đóng muội than của rãnh xéc măng nên xéc măng không xê dịch được. Hậu quả là hình thành khói xanh dày đặc.

Gioăng hoặc đệm kín vỏ máy hư hỏng: Điều này dẫn đến hiện tượng thất thoát dầu cả khi động cơ không vận hành. Dấu vết dầu trên sàn hoặc những vết bẩn trên vỏ động cơ chứng tỏ điều này.
Thay dầu
Nhà sản xuất quy định việc thay dầu theo cự ly nhất định. Thay dầu có thể được thực hiện bằng cách cho dầu thoát ra hoặc hút dầu ra lúc động cơ ở nhiệt độ vận hành.
Xả dầu động cơ: Ở đây, dầu chảy ra hầu như hoàn toàn từ lỗ khoan thoát dầu ở bể dầu vào thùng hứng dầu. Đệm kín của bu-lông xả nhớt phải được thay thế. Nếu bu-lông ngày thoát dầu được tích hợp bộ tách từ tính (gắn nam châm), những mạt kim loại dính ở đây phải được lau sạch.
Hút dầu động cơ: Đầu ống hút được đưa vào bể dầu, dầu được hút ra trong vòng 5 đến 10 phút. Thường sẽ còn khoảng 0,5 lít dầu cũ nằm lại trong đáy các-te. Số dầu này phải được tính vào lượng dầu châm thêm theo quy định để mức dầu không vượt quá vạch MAX. Nếu đầu ống hút không đến được vị trí thấp nhất của bể dầu, những chất bẩn tụ tại đó sẽ không được hút ra.
Thay lọc dầu (với loại lọc có lõi lọc tách rời)
Tương tự như việc thay dầu, thay lọc dầu cũng được nhà sản xuất quy định theo cự ly nhất định.
Hộp lọc dầu phải được tháo ra bằng một khóa mở đặc biệt. Khi lắp hộp lọc dầu vào, phải chú ý đến những điểm sau:
- Gioăng cao su của lọc dầu mới phải được bôi một ít dầu để sau này khi tháo ra không bị dính vào mặt bít kín.
- Vặn hộp lọc vào bằng tay.

Thay bộ lọc dầu. Nắp của mô đun lọc phải được tháo rời. Khi đặt cuộn lọc vào phải chú ý đến vị trí đúng. Gioăng cao su của nắp mô đun lọc phải được thay thế.
Châm dầu. Chỉ được dùng loại dầu do nhà sản xuất cho phép. Sau khi châm lượng dầu đúng quy định, phải kiểm soát mức dầu. Kiểm soát độ kín khi động cơ hoạt động.
Dầu cũ và lọc cũ phải được lưu giữ và tiêu hủy đúng cách, thân thiện với môi trường.
Kiểm soát áp suất dầu
Chức năng của công tắc áp suất dầu và áp suất dầu ở một tốc độ quay nhất định phải được kiểm soát. Công tắc áp suất dầu được lắp vào bộ điều hợp của máy kiểm.
Giữa công tắc áp suất dầu và bình điện là một bóng đèn. Đèn phải sáng khi chìa khoá bật ON và động cơ chưa nổ.

Đèn phải tắt khi áp kế chỉ áp suất từ 0,3 đến 0,6 bar lúc động cơ hoạt động. Với kết quả < 0 bar, công tắc áp suất dầu phải được thay thế. Ở tốc độ quay 2.000 v/ ph và nhiệt độ dầu 80 °C, áp suất dầu tối thiểu phải là 2 bar.







